Faculty of Physics, Hanoi University of Science

Vietnamese-VN

Bộ môn Tin học Vật lý

Email In PDF.

 

Actual members

 

Nr

Name & title

Education

Research

1

Nguyễn Quang Hưng, PhD

Head of the Department

· BS and MS in Pure Mathematics, University of Warsaw, Poland.

· BS and MS in Theoretical Physics, Univ. of Warsaw, Poland.

· PhD (2002) in Theoretical Physics from the Polish Academy of Sciences.

Computational Physics, Classical & Quantum Gravity, Mathematical Physics (esp. Topological, Algebraic, Geometrical structures and methods for Physics).

Applied Math, Applied Computer Science.

2

Nguyễn Tiến Cường, PhD

· BS in Physics Education, and MS in Physics from HUS-VNU, Vietnam.

· PhD (2013) in Material Science from JAIST, Japan.

Computational Material Science

3

Nguyễn Thị Thanh Nhàn, PhD

· BS and MS degree in Physics from HUS-VNU, Vietnam.

· PhD (2015) in Theoretical Physics from HUS-VNU, Vietnam.

Electromagnetic Waves in Solids

4

Nguyễn Cảnh Việt, MSc

· BS and MS degree in Physics from HUS-VNU, Vietnam.

Embedded Systems, Smart Electronics

 

5

Đỗ Quốc Tuấn, PhD

· BS in Physics from HUS-VNU, Vietnam.

· MSc (2010) in Theoretical Physics, Taiwan.

· PhD (2015) in Theoretical Physics, Chiaotung,Taiwan.

Cosmology, Modified Theories of Gravitation

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ex-members

 

Nr

Name & title

Education

Research

1

Nguyễn Hoàng Oanh, PhD

(On leave)

· BS degree in Physics from HUS-VNU, Vietnam.

· PhD (2009) in Physics from Tsukuba Univ, Japan.

Computational Physics, Theoretical HEP

2

Lê Viết Dư Khương, Ass. Prof., PhD   (Emeritus)

· BS degree in Physics from HUS.

· PhD (1987) in Physics from Moscow State Univ, Russia.

Geophysics, Computational Physics

3

Tôn Tích Ái, Prof., PhD    (Emeritus)

· BS degree in Physics from HUS.

· PhD in Physics from Moscow State Univ, Russia.

Geophysics, Numerical Methods

 

 

BỘ MÔN TIN HỌC VẬT LÝ, KHOA VẬT LÝ

MỘT BỘ MÔN TRẺ PHONG CÁCH HIỆN ĐẠI

Trích trong bài viết của GS. TS. NGƯT.Tôn Tích Ái *, TS. Nguyễn Quang Hưng ** nhân dịp 55 năm thành lập Khoa Vật lý (2011).

* Nguyên chủ nhiệm Bộ môn Tin học Vật lý‎ (2001-2006)

**Chủ nhiệm Bộ môn Tin học Vật lý (2009-2014, 2014- hiện nay)

Tin học vật lý là môn khoa học liên kết các khoa học vật lý, khoa học máy tính, toán học ứng dụng để giải quyết các nhiệm vụ khoa học mang tính thực tiễn và thường là phức tạp. Phạm vi hoạt động của môn khoa học này khá rộng bao gồm việc tính toán, mô hình hóa, mô phỏng, xử lý‎ số liệu các vấn đề vật lý‎, ví dụ như các quá trình chuyển pha, tiến hóa của vũ trụ, thiên hà, sao và hốc đen, trường lượng tử trên lưới, xử l‎ý kho số liệu khổng lồ của các nghiên cứu thực nghiệm hạt cơ bản, tiên đoán và mô phỏng vật liệu mới, cơ học nhiều vật, thủy động lực học, vv. Tin học vật lý, cùng với những chuyên ngành khác, đồng tham gia giải quyết những vấn đề đa lĩnh vực như sinh thái, môi trường, y - sinh học, địa chất, vd. như nghiên cứu sự vận chuyển của nước ngầm, dòng hải lưu biển, thăm dò tài nguyên, xử l‎ý ô nhiễm môi trường, cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu, các quá trình cuốn proteins, giải mã genes người, nghiên cứu viruses, chế tạo thuốc phân tử, xử l‎ý hình ảnh trong y học, mô phỏng bệnh dịch, vv... Để tham gia giải quyết các vấn đề này, Tin học vật lý đòi hỏi không chỉ các kiến thức của vật lý và toán học, mà còn đòi hỏi các kiến thức về lập trình và các thuật toán.

Nhìn lại từ trước cho đến nay trong Vật lý, theo truyền thống người ta phân chia ngành khoa học này thành ra lĩnh vực nghiên cứu tương đối tách biệt nhau là lý thuyết và thực nghiệm. Các nhà Vật lý lý thuyết bằng công cụ Toán - Lý, phát triển và đề ra những lý thuyết mới, soi đường cho các nhà thực nghiệm kiểm định và phát triển tiếp theo. Ngược lại, các nhà Vật lý thực nghiệm một mặt kiểm định lại các phần lý thuyết đã được phát hiện, đồng thời thu thập các hiện tượng số liệu thực nghiệm đề xuất cho các nhà Vật lý lý thuyết phát triển đề xuất các minh giải tối ưu.

Hiện nay, nhờ sự phát triển của khoa học và kỹ thuật về các công cụ tính toán cũng như các ngôn ngữ cơ bản và phức hợp mà trong vật lý đã hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mới- Tin học Vật lý, một lĩnh vực nghiên cứu trung gian giữa lý thuyết và thực nghiệm.

Tin học vật lý đưa ra những dự đoán bằng số (định lượng) cần thiết giúp cho lý thuyết phát triển, đồng thời mở đường cho thực nghiệm tiếp tục kiểm nghiệm kết quả. Thông thường thông qua phương pháp mô phỏng, mô hình hóa. Tin học Vật lý sử dụng máy tính tiến hành các “thí nghiệm ảo” trước khi các nhà vật lý thực nghiệm thật sự khẳng định các tính chất và bản chất vật lý của các hiện tượng được phát hiện.

Tin học vật lý có nhiệm vụ cung cấp công cụ hiện đại cho các nhà vật lý. Ngày nay công nghệ thông tin đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nền kinh tế trí thức. Tin học đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người và Vật lý cũng không nằm ngòai xu hướng này. Chỉ có những nhà vật lý thực thụ với những hiểu biết cơ bản về các khoa học tính toán mới có thể xây dựng được chuyên ngành Tin học Vật lý nhằm đáp ứng các yêu cầu của một lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng mới. Tin học vật lý tạo điều kiện cho các nhà vật lý hiểu biết sâu sắc các hiện tượng, bản chất của các quy luật vật lý qua các phương pháp mô hình mô phỏng, khuyến khích các nhà vật lý khám phá thêm các quy luật vật lý qua các thay đổi về các điều kiện cũng như các thông số của các mô hình trên máy tính. Tin học vật lý còn mở rộng khả năng nghiên cứu các bài toán vật lý và kỹ thuật phức tạp mà trước đây không thể giải được nhờ sử dụng các tính toán mô phỏng trên máy tính, cung cấp các kết quả nghiên cứu định lượng bằng số mà trước đây các phương pháp tính toán truyền thống không thể nào đạt được. Tin học vật lý còn trang bị kiến thức lập trình trên các ngôn ngữ khác nhau cho các sinh viên không phải thuộc chuyên ngành của Khoa Vật lý nhằm khuyến khích khả năng tiến hành nghiên cứu theo chuyên môn của mình trên các máy tính.

Theo kinh nghiệm tổng kết được từ các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tin học vật lý trên thế giới, thì ngành khoa học này có ba nhiệm vụ chính sau đây:

- Xây dựng mô hình bằng số và symbolic cũng như thuật toán cho các quá trình mô phỏng các hệ thống vật lý cũng như kỹ thuật.

- Tu chỉnh và xử lý các số liệu thực nghiệm.

- Thiết lập cơ sở vật lý cho ngành chế tạo máy tính.

Kết hợp với phương hướng tổng quát kể trên với trình độ hoàn cảnh và các điều kiện cụ thể cũng như khả năng của đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện tại trong bộ môn, bước đầu mục tiêu đào tạo các cử nhân vật lý chuyên ngành tin học vật lý như sau:

- Trang bị các kiến thức cơ bản về vật lý toán học

- Cung cấp các kỹ năng lập trình trên máy tính theo các ngôn ngữ hiện đại khác nhau cũng như những khái niệm cơ bản về công nghệ thông tin.

- Cung cấp kiến thức và kỹ năng để thu thập, xử lý và minh giải các số liệu thực nghiệm, tự động hóa trong việc điều khiển các thiết bị.

- Trang bị các kiến thức về xây dựng các bài toán dạng mô hình và mô phỏng.

Với những kiến thức cơ bản thu thập được trong quá trình học tập tại Khoa Vật lý và tại bộ môn tin học vật lý sinh viên chuyên ngành tin học vật lý có thể làm việc tại các cơ sơ nghiên cứu khoa học, các viện nghiên cứu,.., giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông hoặc tiếp tục học theo các bậc cao hơn hoặc tu nghiệp theo chuyên ngành tại nước ngoài, các công ty, các tổ chức khác nhau có sử dụng tin học.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của bộ môn gồm một tập thể bao gồm các thế hệ khác nhau, từ các giáo sư, phó giáo sư có tuổi đến các thạc sĩ năng động trẻ trung không ngừng vươn lên trong khoa học. Chúng tôi tin tưởng rằng các thầy cô giáo trong bộ môn, đặc biệt là các thầy giáo trẻ, bên cạnh công việc đào tạo thầm lặng, sẽ đưa bộ môn tiến lên một tầm cao mới trong nghiên cứu khoa học cơ bản cũng như trong ứng dụng.  Chúng tôi mong muốn các bạn sinh viên trẻ tài năng, cùng với các học viên cao học và NCS đồng hành cũng chúng tôi chinh phục những đỉnh cao và những thử thách mới.

 

 

 

 

 

Related Articles